62. Sớ Năm Mới Lạy Tam Thiên Phật
(Sơ Niên Giai Tiết)
Nguyên văn:
伏以
初年佳節、千光炳耀慈臨、歲首韶光、萬衆重新彩色、懺摩爰啟、消除殘臘愆尤、法會弘開、騈集新春福祉。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家居奉
佛修香獻供恭遇新年禮三千佛懺悔祈安迎祥集福事。今弟子...等、卽日焚香、心誠拜干
金相光中、俯垂炤鑒。竊念、塵勞務重、暗消歳月蹉跎、世事羈縻、不覺光陰錯過、欣逢元始、喜遇春陽、禮拜三尊聖號、懺徃修來、敬稱萬德鴻名、消灾植福。茲者...伏願、千光洞鑒、千祥雲集於四辰、萬德垂慈、萬類咸亨於永歲、障緣殄滅、若片雪點於烘爐、福履永綏、似春芳茂於大地、一年迪吉、擧錯唯納禎祥、終歲平安、左右但逢瑞藹。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Sơ niên giai tiết, thiên quang bỉnh diệu từ lâm; tuế thủ thiều quang, vạn chúng trùng tân thái sắc; Sám Ma viên khải, tiêu trừ tàn lạp1 khiên vưu; pháp hội hoằng khai, biền tập tân xuân phước chỉ.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương hiến cúng cung ngộ tâm niên, lễ Tam Thiên Phật,2 sám hối kỳ an, nghinh tường tập phước sự. Kim đệ tử … đẳng, tức nhật phần hương, tâm thành bái can, kim tướng quang trung, phủ thùy chiếu giám.
Thiết niệm: Trần lao vụ trọng, ám tiêu tuế nguyệt tha đà; thế sự ky mi, bất giác quang âm thác quá; hân phùng nguyên thỉ, hỷ ngộ xuân dương; lễ bái Tam Tôn3 thánh hiệu, sám vãng tu lai; kính xưng vạn đức hồng danh, tiêu tai thực phước. Tư giả …
Phục nguyện: Thiên quang động giám, thiên tường vân tập ư Tứ Thần; vạn đức thùy từ, vạn loại hàm hanh ư vĩnh tuế; chướng duyên điễn diệt, nhược phiến tuyết điểm ư hồng lô;4 phước lí vĩnh tuy, tợ xuân phương mậu ư đại địa; nhất niên địch cát, cử thác duy nạp trinh tường; chung tuế bình an, tả hữu đản phùng thoại ái. Cẩn sớ.
Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật ... thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Đầu năm tiết tốt, hào quang sáng rọi đến đây; cảnh đẹp xuân về, vạn loại mới toanh sắc thái; mở bày sám hối, tiêu trừ năm cũ tội khiên; pháp hội rộng khai, vân tập tân xuân phước đức.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương hiến cúng, gặp dịp năm mới, lạy Tam Thiên Phật, sám hối cầu an, đón lành gom phước. Nay đệ tử …, ngày nầy dâng hương, tâm thành trăm lạy, Tướng Vàng chói sáng, xót thương chứng giám.
Nép nghĩ: Bụi trần vướng nặng, trãi qua ngày tháng dần dà; chồng chất việc đời, nào hay thời gian đi vội; may gặp năm mới, vui dịp xuân về; lễ lạy Tam Tôn thánh hiệu, hối cải tu nay; kính xưng muôn đức hồng danh, tiêu tai trồng phước. Hôm nay …
Cúi mong: Ngàn quang chứng giám, ngàn mây lành tập trung cả ngày; muôn đức gieo từ, muôn loại đều hưởng thêm tuổi thọ; chướng duyên sạch dứt, như mảnh tuyết điểm nơi lò hồng; phước đức mãi yên, tợ hương xuân thấm nơi đại địa; một năm tươi tốt, vào ra chỉ nạp cát tường; cuối năm bình an, phải trái gặp điều vui vẻ. Kính dâng sớ.
Phật lịch … Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con kính thành dâng sớ.
Phần chú thích:
- Tàn lạp (殘臘): cuối năm Âm Lịch; như trong bài thơ Tương Khẩu Tống Hữu Nhân (湘口送友人) của Lý Tần (李頻, 818?-876) nhà Đường có câu: “Linh lạc ma hoa quá tàn lạp, cố viên quy khứ hựu tân niên (零落梅花過殘臘、故園歸去又新年, lả chả hoa mai rụng cuối năm, vườn xưa về đến lại tân niên).” Hay như trong bài Dữ Trình Chánh Phụ Đề Hình Thư (與程正輔提刑書) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống cũng có câu: “Tàn lạp chỉ sổ nhật, cảm niệm tụ tán, bất năng vô dị hương chi thán (殘臘只數日、感念聚散、不能無異鄉之嘆, cuối năm chỉ còn mấy ngày, cảm niệm tụ tán, chẳng thể không than thở nơi đất khách).” Cũng như trong Tái Sanh Duyên (再生緣) hồi thứ 9 có đoạn: “Như kim tàn lạp quá tân niên, kim niên ngã trạch đa hưng vượng, nhân khẩu bình an phước hựu tăng (如今殘臘過新春、今年我宅多興旺、人口平安福又增, như nay cuối năm qua năm mới, năm nay nhà ta nhiều thịnh vượng, mọi người bình an mà phước lại tăng thêm).”
- Tức Tam Thiên Phật Danh Kinh (三千佛名經), gọi đủ là Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh Kinh (三劫三千佛名經), thâu lục vào Taishō với 3 quyển riêng biệt là Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (過去莊嚴劫千佛名經, No. 446a, thất dịch) 1 quyển; Hiện Tại Hiền Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (現在賢劫千佛名經, No. 447a, thất dịch), 1 quyển; Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật Danh Kinh (未來星宿劫千佛名經, No. 448a, thất dịch), 1 quyển.
- Tam Tôn (三尊): hay Tam Tôn Phật (三尊佛); tức lấy đấng Trung Tôn ở giữa làm chủ và có hai vị hầu hai bên. Hình thức nầy phát xuất từ dạng thức Nhất Quang Tam Tôn (一光三尊) của Ấn Độ. Thông thường, đấng Trung Tôn là Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦), bên trái là Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師), bên phải là Phật Di Đà (s: Amitāyus, Amitābha; 彌陀). Ngoài ra, còn có hình thức một Phật hai Bồ Tát hay Minh Vương hầu hai bên. Xưa nay Tam Tôn vốn có hình thức nhất định, như Phật Thích Ca cùng với hai vị đệ tử Thanh Văn là Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 迦葉), A Nan (s: Ānanda, 阿難); hay Phật Thích Ca với hai Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) và Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊), được gọi là Thích Ca Tam Tôn (釋迦三尊). Phật Di Đà với hai Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) và Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至) được gọi là Di Đà Tam Tôn (彌陀三尊) hoặc Tây Phương Tam Thánh (西方三聖). Dược Sư Như Lai cùng với hai Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光), được gọi là Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊); hoặc Dược Sư Như Lai cùng với hai Bồ Tát Dược Vương (s: Bhaiṣajyarāja, 藥王) và Dược Thượng (s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上). Cũng có trường hợp Bát Nhã Bồ Tát (般若菩薩) với hai vị trời Phạm Thiên (s: Braḥma, 梵天) và Đế Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋). Bất Động Minh Vương (s: Acalanātha, 不動明王) với hai đồng tử Chế Tra Ca (s: Ceṭaka, 制吒迦) và Căng Yết La (s: Kiṅkara, 矜羯羅), v.v. Như trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, CBETA No. 1646) quyển 22, phần Dương Thứ Công Vương Mẫn Trọng Truyện (楊次公王敏仲傳) có đoạn: “Quy mạng Chánh Biến Tri, Như Lai diệu pháp tạng, thập phương đại Bồ Tát, Tam Tôn chơn Thánh chúng, ngã kim ư pháp bảo, nguyện tác thắng diệu duyên (歸命正遍知、如來妙法藏、十方大菩薩、三尊真聖眾、我今於法寶、願作勝妙緣, quy kính Chánh Biến Tri, Như Lai pháp tạng mầu, mười phương đại Bồ Tát, Tam Tôn các bậc Thánh, con nay nơi pháp bảo, nguyện tạo nhân duyên lành).”
- Nhược phiến tuyết điểm ư hồng lô (若片雪點於烘爐): như mảnh tuyết trắng điểm nổi bậc trong lò lửa đỏ rực. Mạc Đĩnh Chi (莫挺之, 1280-1350), nhà văn, nhà ngoại giao nổi tiếng thời vua Trần Anh Tông (陳英宗, tại vị 1293-1314), được xưng tụng là Lưỡng Quốc Trạng Nguyên, cũng có làm bài thơ với ý nghĩa tương tự như vậy: “Thanh thiên nhất đóa vân, hồng lô nhất điểm tuyết, Thượng Uyển nhất chi hoa, Diêu Trì nhất phiến nguyệt. Y ! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết (青天一朵雲、烘爐一點雪、上苑一枝花、瑤池一片月、噫雲散雪消花殘月缺, trời xanh một đám mây, lò lửa một điểm tuyết, Thượng Uyển một cành hoa, Diêu Trì một vầng trăng. Than ôi ! Mây tan, tuyết tiêu, hoa tàn, trăng khuyết).”